BẢN TIN THUẾ THÁNG 12/2020

Ngày đăng: 10:06 PM 14/12/2020 - Lượt xem: 2004

BẢN TIN THUẾ THÁNG 12/2020

MỤC LỤC BÀI VIẾT

I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 11/2020

II. Từ ngày 5/12/2020, phạt đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế

III.Tính tiền chậm nộp để bảo đảm công bằng giữa các Doanh nghiệp trong việc tuân thủ thuế

IV. Tăng thời hạn hiệu lực các văn bản quy định về hoá đơn điện tử

V. Hướng dẫn giảm lệ phí trước bạ đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước

VI. Xây dựng Nghị định quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp

VII. Khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp

VIII. Một số điểm mới của Nghị định 132/2020/NĐ-CP về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết

IX. Năm 2020, có hơn một triệu người không còn phải nộp thuế TNCN

X. Bộ Tài chính phối hợp giải quyết thủ tục nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực hải quan

 

I. Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 11/2020

Bkav xin thông báo, do ngày cuối của kỳ kê khai Tháng 11/2020 trùng với ngày nghỉ (ngày Chủ nhật) nên theo Quy định tại khoản 4 điều 8 thông tư số 156/2013/TT-BTC “Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn giải quyết thủ tục hành chính trùng với ngày nghỉ theo quy định thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày làm việc tiếp theo của ngày nghỉ đó”. Như vậy thời hạn nộp hồ sơ khai thuế như sau:

  • Hồ sơ khai thuế của kỳ kê khai Tháng 11/2020: Hết hạn nộp vào thứ Hai ngày 21/12/2020.

Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai sớm trước thời gian hết hạn ít nhất từ 1 đến 2 ngày để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý Khách hàng vui lòng thực hiện theo 1 trong 4 cách dưới đây:

  • Cách 1:  (cách nhanh nhất để được hỗ trợ hiệu quả): Chat trực tiếp tại link https://m.me/BkavCA hoặc https://zalo.me/4458938702350836836.

  • Cách 2: Gửi mail tới Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua địa chỉ BkavCA@bkav.com với nội dung mà Bạn cần hỗ trợ, Bkav sẽ phản hồi lại Bạn trong thời gian sớm nhất.

  • Cách 3: Liên hệ tổng đài 1900 1854.

  • Cách 4: Xử lý vấn đề đang gặp phải theo các bước đơn giản trong bài hướng dẫn tại https://noptokhai.vn/tvan/huong-dan hoặc tìm kiếm thông tin hướng dẫn về nghiệp vụ, cách sử dụng phần mềm tại https://Hotro.bkav.com

Về mục lục

>

II. Từ ngày 5/12/2020, phạt đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi trốn thuế

Theo Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ về xử phạt hành chính về thuế, hóa đơn, hành vi trốn thuế sẽ bị phạt tiền từ 1 đến 3 lần số thuế trốn.

Nghị định số 125/2020/NĐ-CP quy định, phạt tiền 1 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế có từ một tình tiết giảm nhẹ trở lên khi thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

  • Một là, không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế.

  • Hai là, không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế..

  • Ba là, không lập hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng; lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.

  • Bốn là, sử dụng hóa đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hóa đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm.

  • Năm là, sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hóa không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm.

  • Sáu là, sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế.

  • Bảy là, người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế.

Phạt tiền 1,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi nêu trên mà không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Phạt tiền 2 lần số thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi trên mà có một tình tiết tăng nặng. Phạt tiền 2,5 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vi trên có hai tình tiết tăng nặng. Phạt tiền 3 lần số tiền thuế trốn đối với người nộp thuế thực hiện một trong các hành vinêu trên có từ ba tình tiết tăng nặng trở lên.

Đối tượng vi phạm các hành vi trên sẽ bị buộc nộp đủ số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước. Trường hợp hành vi trốn thuế đã quá thời hiệu xử phạt thì người nộp thuế không bị xử phạt về hành vi trốn thuế nhưng người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế trốn, tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế trốn vào ngân sách nhà nước theo thời hạn quy định. Ngoài ra, người nộp thuế còn bị buộc điều chỉnh lại số lỗ, số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ trên hồ sơ thuế (nếu có) đối với hành vi vi phạm nêu trên.

Các hành vi vi phạm thứ hai, năm, sáu nêu trên bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế nhưng không làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc chưa được hoàn thuế, không làm tăng số tiền thuế được miễn, giảm thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng.

(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)

Về mục lục

III.Tính tiền chậm nộp để bảo đảm công bằng giữa các Doanh nghiệp trong việc tuân thủ thuế

Không ít doanh nghiệp thực hiện tạm nộp hàng quý mà để dồn đến thời hạn nộp thuế của quý 4 (thông thường vào ngày 30/1 năm sau) mới nộp thuế vào ngân sách Nhà nước (NSNN), gây mất công bằng trong việc thực thi pháp luật thuế.

Liên quan đến nội dung các bài báo “Quy định thuế mới tận thu, bất hợp lý” ngày 18/11/2020 và “Quy định thuế mới chưa thúc đẩy sản xuất, kinh doanh cuối năm” ngày 20/11/2020 trên Báo Thanh Niên, Tổng cục Thuế đã cung cấp thêm một thông tin đến dư luận.

Thực hiện chủ trương cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, Tổng cục Thuế đã báo cáo Bộ Tài chính trình Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 và trình Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014, theo đó bãi bỏ quy định về kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính hàng quý và kê khai quyết toán theo năm, thay bằng quy định tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hàng quý và kê khai quyết toán theo năm.

Theo đó, doanh nghiệp căn cứ vào số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của năm trước và dự kiến kết quả sản xuất kinh doanh trong năm để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp các quý trong năm sát với thực tế kết quả sản xuất kinh doanh.

Quy định về tính tiền chậm nộp đối với việc thực hiện tạm nộp thuế được xác định theo thời điểm hạn nộp thuế quý bốn của doanh nghiệp, theo đó trường hợp tổng số thuế tạm nộp trong kỳ tính thuế thấp hơn số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán từ 20% trở lên thì doanh nghiệp phải nộp tiền chậm nộp đối với phần chênh lệch từ 20% trở lên giữa số thuế tạm nộp với số thuế phải nộp theo quyết toán tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế quý 4 của doanh nghiệp đến ngày thực nộp số thuế còn thiếu so với số quyết toán.

Tuy nhiên, từ khi triển khai Nghị định số 91/2014/NĐ-CP trong thực tế cho thấy, bên cạnh các doanh nghiệp đã tuân thủ tốt quy định tạm nộp thuế TNDN, còn nhiều doanh nghiệp không tuân thủ và lợi dụng quy định về tính tiền chậm nộp này, không thực hiện tạm nộp hàng quý mà để dồn đến thời hạn nộp thuế của quý 4 (thông thường vào ngày 30/1 năm sau) mới nộp thuế vào NSNN.

Số thu thuế TNDN phát sinh phải nộp trong năm ngân sách trước bị chiếm dụng và nộp vào năm ngân sách sau gây ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước hàng năm. Đồng thời, không đảm bảo sự công bằng trong việc thực thi pháp luật thuế giữa các doanh nghiệp tuân thủ tốt và các doanh nghiệp không tuân thủ.

Để khắc phục hạn chế nêu trên, Chính phủ đã quy định về tính tiền chậm nộp đối với thuế TNDN tạm nộp trong năm, kê khai quyết toán cuối năm đã được sửa đổi tại điểm b khoản 6 Điều 8 Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ, theo đó trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 3 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu so với số thuế phải nộp theo quyết toán kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 3 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.

Việc quy định như trên xuất phát từ thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều có phương án và kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và hoàn toàn chủ động trong việc xác định/ước tính kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm để thực hiện quy định tạm nộp thuế TNDN theo quy định.

Tổng cục Thuế cho hay, nghĩa vụ phải nộp chính thức sẽ được xác định khi doanh nghiệp quyết toán thuế TNDN tại thời điểm kết thúc năm tính thuế. Thực tế, các trường hợp doanh nghiệp có kết quả tăng bất thường về sản xuất kinh doanh trong quý bốn mà doanh nghiệp không dự kiến được trước không phải là trường hợp phổ biến.

Lãnh đạo Tổng cục Thuế khẳng định, sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để có hướng dẫn cụ thể theo kỳ tính thuế. Tổng cục Thuế cũng đề nghị dư luận hiểu rõ về chính sách thuế và công tác quản lý thuế nói chung; từ đó, chấp hành tốt chính sách, pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế TNDN nói riêng.

Cơ quan thuế sẵn sàng hỗ trợ mọi vướng mắc của người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.

(Nguồn: Gdt.gov.vn – Mục Tin tức – Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 23/11/2020)

Về mục lục

IV. Tăng thời hạn hiệu lực các văn bản quy định về hoá đơn điện tử

Ngày 30/10/2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 88/2020/TT-BTC về việc sửa đổi, bổ sung Điều 26 Thông tư số 68/2019/TT-BTC ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ.

Tại thông tư số 88/2020/TT-BTC quy định về việc sửa đổi khoản 2 và bãi bỏ khoản 3, khoản 4 Điều 26 Thông tư số 68/2019/TT-BTC ngày 30/9/2020 của Bộ Tài chính. Nội dung cụ thể như sau:

  • Một là, từ ngày thông tư 88/2020/TT-BTC có hiệu lực 01/11/2020 đến ngày 30/6/2022, các văn bản của Bộ Tài chính ban hành sau vẫn còn có hiệu lực thi hành:

    • Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14 tháng 03 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

    • Thông tư số 191/2010/TT-BTC ngày 01 tháng 12 năm 2010 hướng dẫn việc quản lý, sử dụng hóa đơn vận tải;

    • Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31 tháng 3 năm 2014 của Bộ Tài chính (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25 tháng 8 năm 2014, Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27 tháng 02 năm 2015 của Bộ Tài chính);

    • Quyết định số 1209/QĐ-BTC ngày 23 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc thí điểm sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế, Quyết định số 526/QĐ-BTC ngày 16 tháng 4 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc mở rộng phạm vi thí điểm sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế;

    • Quyết định số 2660/QĐ-BTC ngày 14 tháng 12 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc gia hạn thực hiện Quyết định số 1209/QĐ-BTC ngày 23 tháng 6 năm 2015;

    • Thông tư số 37/2017/TT-BTC ngày 27 tháng 4 năm 2017 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31 tháng 3 năm 2014 của Bộ Tài chính (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính)”.

  • Hai là, bãi bỏ thời hạn từ ngày 01/11/2020, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ, cá nhân kinh doanh phải thực hiện đăng ký áp dụng hoá đơn điện tử theo hướng dẫn tại Thông tư 68/2019/TT-BTC.

 

 (Nguồn: Gdt.gov.vn – Mục Tin tức – Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 16/11/2020)

Về mục lục

V. Hướng dẫn giảm lệ phí trước bạ đối với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước

Tại Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020 của Chính phủ, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự được sản xuất, lắp ráp trong nước được điều chỉnh giảm 50% đến hết ngày 31/12/2020.

Ngày 02/11/2020, Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn số 4670/TCT-CS giải đáp vướng mắc của Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng về chính sách giảm lệ phí trước bạ với xe ô tô sản xuất, lắp ráp trong nước.

Tổng cục Thuế cho biết, tại Điều 3, Điều 10 Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ quy định về lệ phí trước bạ quy định, thì tổ chức, cá nhân có tài sản thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ phải nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ các trường hợp thuộc diện miễn lệ phí trước bạ theo quy định.

Tổ chức, cá nhân có tài sản thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ có trách nhiệm kê khai và nộp hồ sơ khai lệ phí trước bạ (gồm cả các trường hợp thuộc diện miễn lệ phí trước bạ theo quy định) cho Cơ quan Thuế khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Chi cục Thuế ra thông báo nộp lệ phí trước bạ trong thời hạn 03 ngày làm việc (đối với tài sản là nhà, đất) hoặc 01 ngày làm việc đối với tài sản khác kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì chi cục thuế trả lại hồ sơ cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ về giải quyết thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai (đối với hồ sơ lệ phí trước bạ nhà, đất) hoặc cho người có tài sản (đối với hồ sơ lệ phí trước bạ tài sản khác) theo thời hạn quy định.

Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 1, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020 của Chính phủ, mức thu lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự được sản xuất, lắp ráp trong nước từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31/12/2020 bằng 50% mức thu quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21/02/2019 của Chính phủ và các Nghị quyết hiện hành của HĐND hoặc Quyết định hiện hành của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.

Từ ngày 01/01/2021 trở đi, mức thu lệ phí trước bạ tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 20/2019/NĐ-CP ngày 21/02/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ về lệ phí trước bạ và các Nghị quyết hiện hành của Hội đồng nhân dân hoặc Quyết định hiện hành của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về mức thu lệ phí trước bạ tại địa phương.

Căn cứ quy định nêu trên, Tổng cục Thuế cho biết, trường hợp tổ chức, cá nhân kê khai, nộp đầy đủ hồ sơ khai lệ phí trước bạ lần đầu đối với ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô và các loại xe tương tự được sản xuất, lắp ráp trong nước trong thời gian Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020 của Chính phủ có hiệu lực thi hành thì được áp dụng mức thu lệ phí trước bạ theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020 của Chính phủ (không phụ thuộc thời điểm xuất hóa đơn mua bán).

(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)

Về mục lục

VI. Xây dựng Nghị định quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp

Ngày 18/11/2020, Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 171/NQ-CP thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và chuyển nhượng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.

Nghị quyết nêu rõ, trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại Tờ trình số 111/TTr-BTC ngày 28/8/2020, Công văn số 10447/BTC-TCDN ngày 28/8/2020, Công văn số 13238/BTC-TCDN ngày 29/10/2020, các thành viên Chính phủ đã thống nhất thông qua đề nghị xây dựng Nghị định về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và chuyển nhượng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Nghị quyết số 171/NQ-CP đã được tiếp thu các ý kiến Thành viên Chính phủ về 5 chính sách chủ yếu theo đề xuất của Bộ Tài chính.

Theo đó, Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng Nghị định trình Chính phủ ngay trong quý I/2021 theo trình tự thủ tục, rút gọn và bảo đảm lấy đủ ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của Nghị định.

Bộ Tài chính cho biết, Nghị định về quản lý, sử dụng nguồn thu từ chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập và chuyển nhượng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp được ban hành sẽ quy định rõ về việc quản lý, sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa và các hình thức sắp xếp, chuyển đổi sở hữu khác của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp do doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ, cổ phần hóa đơn vị sự nghiệp công lập và nguồn thu từ thoái vốn nhà nước.

Hiện nay, công tác quản lý thu, đối chiếu nợ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp vẫn phụ thuộc khối cơ quan đại diện chủ sở hữu tại các địa phương và hiệu quả không cao, khó xử lý dứt điểm các khoản nợ Quỹ của các doanh nghiệp địa phương. Ngoài ra, việc điều hành Quỹ không đảm bảo công bằng giữa các địa phương, nguồn thu được cân đối theo Luật Ngân sách nhà nước tương ứng với số các địa phương nộp về Quỹ.

Do vậy, Bộ Tài chính đề nghị thay đổi mô hình quản lý nguồn thu về Quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển doanh nghiệp hiện nay sang thu trực tiếp về ngân sách nhà nước; phân cấp thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Theo Bộ Tài chính, việc ban hành Nghị định này là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn thu này. Khoản thu này phải nộp đầy đủ, kịp thời và phải được đưa vào dự toán Ngân sách nhà nước hàng năm, kế hoạch tài chính, kế hoạch đầu tư công trung hạn, ưu tiên đầu tư cho các dự án quan trọng, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, đồng thời, đảm bảo nguồn lực hỗ trợ quá trình cơ cấu lại, sắp xếp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước.

(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)

Về mục lục

VII. Khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Nghị định số 126/2020/NĐ-CP, ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế, đã nêu rõ quy định về khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo đó, Nghị định quy định, người nộp thuế phải khai quyết toán năm và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp đến thời điểm giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng hoặc tổ chức lại doanh nghiệp.

Trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa) mà doanh nghiệp chuyển đổi kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp được chuyển đổi thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp đến thời điểm có quyết định về việc chuyển đổi doanh nghiệp, doanh nghiệp khai quyết toán khi kết thúc năm.

Người nộp thuế phải tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý (bao gồm cả tạm phân bổ số thuế thu nhập doanh nghiệp cho địa bàn cấp tỉnh nơi có đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh, nơi có bất động sản chuyển nhượng khác với nơi người nộp thuế đóng trụ sở chính) và được trừ số thuế đã tạm nộp với số phải nộp theo quyết toán thuế năm.

Người nộp thuế thuộc diện lập báo cáo tài chính quý theo quy định của pháp luật về kế toán căn cứ vào báo cáo tài chính quý và các quy định của pháp luật về thuế để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý.

Người nộp thuế không thuộc diện lập báo cáo tài chính quý theo quy định của pháp luật về kế toán căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh quý và các quy định của pháp luật về thuế để xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp quý.

Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của 03 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm.

Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 03 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 03 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.

Người nộp thuế có thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, nhà để chuyển nhượng hoặc cho thuê mua, có thu tiền ứng trước của khách hàng theo tiến độ phù hợp với quy định của pháp luật thì thực hiện tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quý theo tỷ lệ 1% trên số tiền thu được.

Trường hợp chưa bàn giao cơ sở hạ tầng, nhà và chưa tính vào doanh thu tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm thì người nộp thuế không tổng hợp vào hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm mà tổng hợp vào hồ sơ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp khi bàn giao bất động sản đối với từng phần hoặc toàn bộ dự án.

(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)

Về mục lục

VIII. Một số điểm mới của Nghị định 132/2020/NĐ-CP về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết

Ngày 9/11/2020, Tổng cục Thuế đã tổ chức họp báo chuyên đề giới thiệu những điểm mới của Nghị định số 132/2020/NĐ-CP (NĐ 132) quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết (thay thế Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24/2/2017). Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Đặng Ngọc Minh đã chủ trì buổi họp báo.

Phó Tổng cục trưởng Đặng Ngọc Minh cho biết NĐ 132 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những nội dung đã được quy định tại Nghị định số 20/2017/NĐ-CP mà trong thực tế không có vướng mắc, chỉ sửa đổi và bổ sung những nội dung còn thiếu hoặc sửa đổi một số điều để đảm bảo rõ ràng, minh bạch.

Nghị định được xây dựng trên nguyên tắc thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc quản lý thuế, trong đó có nội dung quản lý thuế đối với giao dịch liên kết. Tại Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị có nêu: “Nghiên cứu, xây dựng các quy định khắc phục tình trạng “vốn mỏng”, chuyển giá”; “Hoàn thiện, bổ sung các quy định chặt chẽ trong pháp luật về thuế... để kiểm soát, quản lý, ngăn chặn chuyển giá”; đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật, trong đó có Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 (Luật Quản lý thuế số 38), Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp; tiếp cận với các nguyên tắc, thông lệ quốc tế trong việc quản lý thuế đối với giao dịch liên kết, trong đó có cam kết của Việt Nam khi tham gia diễn đàn BEPS của OECD và phù hợp điều kiện bối cảnh của Việt Nam.

Nghị định bao gồm 4 Chương, 23 Điều, trong đó có một số điểm mới như sau: Nghị định số 132/2020/NĐ-CP không có Thông tư hướng dẫn như Nghị định số 20/2017/NĐ-CP. Để đảm bảo thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan thuế trong triển khai thực hiện cũng như nâng cao tính pháp lý, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế đã nghiên cứu, xây dựng để chuyển các nội dung hướng dẫn tại Thông tư 41/2017/TT-BTC hướng dẫn Nghị định lên Nghị định.

Nghị định cũng kế thừa quy định tại Nghị định số 68/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 Nghị định 20/2017/NĐ-CP. Quy định về khống chế chi phí lãi vay lần đầu được áp dụng tại Việt Nam nên không tránh khỏi những khó khăn trong quá trình triển khai mà nguyên nhân chính là do doanh nghiệp Việt Nam có vốn mỏng, chủ yếu là vốn vay, vốn chủ sở hữu thấp. Vì vậy, ngày 24/6/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định 68/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 Nghị định 20 để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Theo đó, đã nâng mức khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30%; cho phép khống chế chi phí lãi vay sau khi đã trừ lãi tiền gửi, tiền vay và mở rộng đối tượng được miễn áp dụng quy định khống chế. Về hiệu lực thi hành: quy định tại Nghị định 68/2020/NĐ-CP được áp dụng ngay trong kỳ tính thuế năm 2019.

Quy định về khống chế lãi vay được trừ theo Nghị định 68 đã cơ bản khắc phục những nhược điểm của Nghị định 20. Quy định hồi tố năm 2017, 2018 đối với nội dung nâng ngưỡng khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30% đồng thời cho bù trừ với lãi tiền gửi, tiền cho vay dự kiến số thuế phải hoàn hoặc khấu trừ khoảng 4.785 tỷ đồng.

Mở rộng đối tượng loại trừ áp dụng quy định giới hạn chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.

Nghị định số 20, đối tượng loại trừ áp dụng quy định giới hạn chi phí lãi vay chỉ có tổ chức tín dụng và tổ chức kinh doanh bảo hiểm. Nghị định 132/2020/NĐ-CP mở rộng thêm đối tượng loại trừ đó là các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững); các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và dự án phúc lợi công cộng khác).

Quy định về nộp báo cáo lợi nhuận liên quốc gia đảm bảo thuận lợi cho người nộp thuế và cam kết của Việt Nam khi tham gia diễn đàn BEPS của OECD, phù hợp điều kiện bối cảnh của Việt Nam.

Thời điểm lập báo cáo lợi nhuận liên quốc gia có sự thay đổi, trước đây quy định cùng thời điểm nộp tờ khai quyết toán, quy định mới chậm nhất là 12 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao.

Nghị định 20 trước đây quy định người nộp thuế tại Việt Nam có công ty mẹ tối cao tại nước ngoài có nghĩa vụ lưu trữ và cung cấp cho cơ quan thuế báo cáo lợi nhuận liên quốc gia của Công ty mẹ tối cao và cùng thời điểm nộp tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.

NĐ132 quy định mới theo thông lệ quốc tế đảm bảo phù hợp với cam kết khi tham gia diễn đàn BEPS đó là: báo cáo lợi nhuận liên quốc gia nhận được qua hình thức trao đổi thông tin tự động nếu nhà chức trách có thẩm quyền của 2 nước có ký thoả thuận. Người nộp thuế chỉ phải cung cấp trong trường hợp nhà chức trách có thẩm quyền của 2 nước không ký thoả thuận.

Các quy định về quản lý giá giao dịch liên kết được hoàn chỉnh sửa đổi phù hợp với Luật Quản lý thuế số 38.

Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 đã được Quốc hội thông qua, theo đó tại các Điều 3, 12, 17, 42, 43, 50 và Điều 142 đã quy định các nguyên tắc của việc quản lý thuế đối với giao dịch liên kết. Nghị định số 132 quy định các nội dung về quản lý giá giao dịch liên kết được hoàn chỉnh lại cho phù hợp, thống nhất với Luật Quản lý thuế số 38./

(Nguồn: Gdt.gov.vn - Mục Tin tức - Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 09/11/2020)

Về mục lục

IX. Năm 2020, có hơn một triệu người không còn phải nộp thuế TNCN

Vừa qua, một số tờ báo phản ánh, trong khi hầu hết các các nguồn thu khác đều sụt giảm do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 thì số thu từ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) vẫn tăng. Tới thời điểm này, người đóng thuế thu nhập cá nhân chưa được hưởng bất cứ sự hỗ trợ nào. Một số chuyên gia cho rằng nên miễn giảm thuế TNCN để tạo động lực khí thế cho người lao động, cũng như kích thích tiêu dùng. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Thuế TNCN từ tiền lương, tiền công sụt giảm mạnh

Theo thống kê, tổng số thu từ thuế TNCN lũy kế 9 tháng đầu năm 2020 đạt 90.114,8 tỷ đồng, bằng 70,06% so với dự toán. Nguyên nhân là do trong những tháng đầu năm dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt kinh tế xã hội của nước ta, tuy nhiên do kiểm soát tốt dịch bệnh nên tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức dương (2,12%), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 9 tháng đầu năm tăng 3,85% so với cùng kỳ năm 2019, kéo theo số thu thuế TNCN tăng nhẹ 5,02% so với cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, dưới tác động của dịch Covid-19, tốc độ tăng thu thuế TNCN 9 tháng đầu năm 2020 đã giảm 12,69% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó số thu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công và số thu thuế TNCN từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân (nguồn thu chính của thuế TNCN) bị tác động mạnh nhất. Cụ thể, trong quý I/2020, số thu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công tăng 19,1%; thu từ đầu tư vốn tăng 15,2%; từ hoạt động kinh doanh của hộ cá nhân tăng 6,4%; thu từ chuyển nhượng bất động sản tăng 6,1%,... nguyên nhân chủ yếu là do những nguồn thu phát sinh từ hoạt động kinh tế năm 2019 tăng khá (17,2% so với cùng kỳ) và được nộp trong quý I/2020. Cũng do tình hình kinh tế năm 2019 tăng dẫn đến các doanh nghiệp chi trả thu nhập cho người lao động trong dịp trước và sau Tết Nguyên đán tăng cao, không chỉ có vậy thị trường bất động sản sôi động, thị trường chứng khoán khởi sắc nên thuế TNCN từ những nguồn này cũng tăng theo.

Tuy nhiên, từ tháng 3/2020, dịch Covid-19 bùng phát ở Việt Nam, tháng 4/2020 thực hiện giãn cách toàn xã hội khiến hoạt động kinh doanh giảm sút, nhiều doanh nghiệp cắt giảm tiền lương, tiền công; thêm vào đó, do thực hiện gia hạn thuế TNCN đối với hộ, cá nhân kinh doanh theo Nghị định số 41/2020/NĐ-CP dẫn đến số thu thuế TNCN quý II giảm mạnh, chỉ bằng 92,6% so với cùng kỳ, trong đó số thu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công; số thu thuế TNCN từ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân và số thu thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế và nhận quà tặng là bất động sản lần lượt chỉ đạt 95,9%; 84,6% và 83,1%.

Từ quý III/2020, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản bắt đầu có dấu hiệu hồi phục nhẹ so với quý II nên thu thuế TNCN cũng tăng nhẹ (1,9% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, số thu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công và số thu thuế TNCN từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân tiếp tục giảm, cụ thể số thu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công chỉ đạt 94,7% và số thu thuế TNCN từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân quý III đạt 98,5% so với cùng kỳ năm 2019.

Có hơn 1 triệu người không còn phải nộp thuế TNCN

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhà nước đã kịp thời ban hành một số chính sách thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho người nộp thuế là cá nhân, cụ thể:

Ngày 08/4/2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về việc gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất. Theo đó, gia thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế TNCN đối với số tiền thuế phát sinh phải nộp năm 2020 của hộ gia đình, cá nhân kinh doanh hoạt động trong các ngành kinh tế, lĩnh vực nêu tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 2 Nghị định này. Hộ gia đình, cá nhân kinh doanh thực hiện nộp số tiền thuế được gia hạn tại khoản này chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 2020.

Ngày 2/6/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 về nâng mức giảm trừ gia cảnh của thuế TNCN, cụ thể: mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế được nâng từ 9 triệu lên 11 triệu đồng/tháng (132 triệu đồng/năm); Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc được nâng từ mức 3,6 lên 4,4 triệu đồng/tháng. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/07/2020 và áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2020. Theo ước tính, với mức giảm trừ mới, sẽ có khoảng 1 triệu người đang phải nộp thuế TNCN ở mức đầu tiên (bậc 1) sẽ không phải nộp thuế TNCN nữa. Với những người có thu nhập cao hơn, phải nộp thuế trong khoảng bậc 2 trở đi thì rõ ràng cũng sẽ rất có lợi khi số thuế TNCN phải nộp cũng sẽ giảm đáng kể do được nâng mức giảm trừ gia cảnh lên.

Việc nâng mức giảm trừ gia cảnh bắt đầu được thực hiện đã ảnh hưởng ngay đến số thu thuế TNCN, cụ thể số thu từ tiền lương, tiền công tháng 8/2020 chỉ bằng 93,2% cùng kỳ năm 2019 và giảm mạnh so với số thu tháng 7/2020 (giảm 37,2%); số thu từ tiền lương, tiền công tháng 9/2020 bằng 92,74% cùng kỳ năm 2019 và giảm 43,28% so với số thu tháng 7/2020.

Có thể nói với những chính sách hỗ trợ người nộp thuế được ban hành thời gian vừa qua đã góp phần hỗ trợ cho doanh nghiệp và cá nhân vượt qua giai đoạn khó khăn, nhất là các cá nhân, người lao động bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 bị giảm thu nhập, mất việc làm, sẽ không phải nộp thuế. Đối với những người có thu nhập cao, ít bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh sẽ vẫn phải nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật./.

(Nguồn: Gdt.gov.vn – Mục Tin tức – Tin bài về Thuế - Đăng ngày: 06/11/2020)

Về mục lục

X. Bộ Tài chính phối hợp giải quyết thủ tục nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực hải quan

Ngày 11/11/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 169/NQ-CP về phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 10/2020. Tại nghị quyết, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính phối hợp với các bộ, ngành chức năng giải quyết một số nội dung về thủ tục nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực hải quan.

Cụ thể, Chính phủ thống nhất nội dung đề xuất của Bộ Tài chính nêu tại Công văn số 13256/BTC-TCHQ ngày 29/10/2020 về nội dung thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu đối với linh kiện nhập khẩu để sản xuất máy thở phục vụ phòng, chống dịch Covid-19 liên quan đến kiến nghị của Tập đoàn Vingroup.

Chính phủ giao Bộ Tài chính ban hành danh mục cụ thể về linh kiện nhập khẩu để sản xuất máy thở được miễn thuế nhập khẩu cho đến khi có văn bản công bố hết dịch Covid-19 của cơ quan có thẩm quyền và hướng dẫn cơ quan hải quan thực hiện đúng quy định.

Bên cạnh đó, về vướng mắc liên quan đến thủ tục xác nhận tờ khai nguồn gốc phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có nguồn gốc nhập khẩu theo báo cáo của Bộ Tài chính tại Công văn số 11098/BTC-TCHQ ngày 14/9/2020, Chính phủ giao Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng khẩn trương sửa đổi, bãi bỏ các quy định về tờ khai nguồn gốc không phù hợp, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp.

Đồng thời, giao Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan thực hiện việc kết nối, chia sẻ dữ liệu nguồn gốc xe nhập khẩu làm căn cứ thay thế tờ khai nguồn gốc và thực hiện thí điểm cấp đăng ký, biển số xe trên Cổng Dịch vụ công quốc gia trong quý IV/2020 để triển khai thực hiện trên toàn quốc từ năm 2021.

Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính thí điểm việc chia sẻ dữ liệu điện tử về nguồn gốc xe nhập khẩu để phục vụ việc đăng ký, quản lý, sử dụng xe cơ giới trong Bộ Quốc phòng, hoàn thành trong quý II/2021.

(Nguồn: Tapchitaichinh.vn; Xem chi tiết tại đây)

Về mục lục

đăng ký nhận bản tin định kỳ

Kết nối với chúng tôi:

Facebook